yeucauGửi yêu cầu0909 39 77 19

Điểm mới về tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự 2015

Bảng So sánh về tội phạm sở hữu trí tuệ giữa hai bộ Luât hình sự năm 1999 và năm 2015
 
 
 
Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ chính thức phát sinh hiệu lực từ ngày 1/7/2016, trong Bộ luật hình sư mới có một số thay đổi quan trọng về các tội phạm về sở hữu trí tuệ.
 
Thứ nhất:Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong Bộ luật hình sự 1999 thì tội danh này nằm trong Điều 170.
 
Việc bỏ tội danh này là một điều hợp lý vì hiện nay, với cơ chế tố tụng hành chính, khi người có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà vi phạm quy định của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, gây thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì các chủ thể quyền có thể khởi kiện vụ án hành chính nhằm xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực này.
 
Thực tế trong những năm vừa qua, đã có một số vụ việc các chủ thể quyền đã kiện Cục sở hữu trí tuệ ra trước toà hành chính về các quyết định cấp văn bằng bảo hộ hay không cấp văn bằng bảo hộ. Một số vụ án mà các chủ thể quyền đã thắng kiện cơ quan chức năng.
 
Thứ hai:Bộ luật hình sư 2015 đã sửa đổi và bổ sung Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan tại Điều 225.
 
Trước đây, theo Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội phạm này được quy định tại Điều 170a, theo đó cơ quan chức năng có thể khởi tố khi người vi phạm thực hiện hành vi với quy mô thương mại, tuy nhiên, không có quy định hướng dẫn thế nào là quy mô thương mại, gây khó khăn cho quy trình tố tụng, xử lý bằng biện pháp hình sự với tội danh này.
 
Theo quy định mới tại điều 225 thì đã nêu rõ từng số tiền cụ thể và căn cứ vào đó, có quan chức năng có thể định khung và định hình phạt khi thực hiện đấu tranh với hành vi vi phạm này.
 
Trước thực trạng vi phạm bản quyền của Việt Nam hiện nay ở mức cao nhất thế giới (ví dụ như lĩnh vực bản quyền phần mềm) thì việc sửa đổi và bổ sung quy định này vào là hợp lý, mang tính răn đe cho các đối tượng vi phạm bản quyền và cũng phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập các Hiệp ước kinh tế song phương và đa phương.
 
Thứ ba:Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi bổ sung quy định về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
 
Bộ luật hình sự 1999 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định về tội này nhưng trên thực tế rất khó thực hiện vì có quy định rằng hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ với quy mô thương mại thì mới bị xử lý hình sự.
 
Tuy nhiên, không có bất kỳ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền quy định như thế nào được coi là "quy mô thương mại”. Vì vậy, theo điều 226 của bộ luật mới đã quy định rõ khung gía trị vi phạm để làm cơ sở xử lý hình sự.
 
Điều này cũng sẽ phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi ra nhập các Hiệp định kinh tế song phương và đa phương, ví dụ như trong cam kết của Việt Nam ra nhập TPP có quy định là Việt Nam cần phải tăng cường xử lý hình sự các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.
 
Ngoài ra, Điều 226 Bộ luật mới còn quy định trách nhiệm của pháp nhân khi vi phạm sở hữu công nghiệp, bộ luật cũ chỉ có trách nhiệm của thể nhân.

Sau đây là bảng so sánh giữa 2 Bộ luật.

STT Luât hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Luât hình sự năm 2015 Các điểm mới
1.
Điều 170. Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
 
1. Người nào có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà vi phạm quy định của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
 
a) Có tổ chức;
 
b) Phạm tội nhiều lần;
 
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
 
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.
Không quy định Luât hình sự năm 2015 bỏ điều khoản này.
2.
Điều 170a. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
 
1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:
 
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
 
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
 
a) Có tổ chức;
 
b) Phạm tội nhiều lần.
 
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”"
Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
 
 
 
1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
 
 
 
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
 
 
 
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
 
 
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
 
 
 
a) Có tổ chức;
 
 
 
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
 
 
 
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
 
 
 
d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
 
 
 
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
 
 
 
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 
 
 
4. Pháp nhânthương mạiphạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
 
 
 
a) Pháp nhânthương mạithực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
 
 
 
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
 
 
 
c) Pháp nhânthương mạicòn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Luât hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung điều khoản này.
3.
Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
 
 
 
 
 
 
 
1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.
 
 
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
 
 
 
a) Có tổ chức;
 
 
 
b) Phạm tội nhiều lần.
 
 
 
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
 
 
 
1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trịgiátừ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
 
 
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
 
 
 
a) Có tổ chức;
 
 
 
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
 
 
 
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
 
 
 
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
 
 
 
đ) Hàng hóa vi phạm trịgiá500.000.000 đồng trở lên.
 
 
 
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 
 
 
4. Pháp nhânthương mạiphạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
 
 
 
a) Pháp nhânthương mạithực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
 
 
 
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
 
 
 
c) Pháp nhânthương mạicòn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Luât hình sự năm 2015 quy định rõ về khung giá trị vi phạm để xử phạt, quy định thêm về chủ thể là pháp nhân thương mại.


Tin tức Khác